KHI HOA NỞ TRỞ LẠI
CHƯƠNG 1
SAU KHI SAY RƯ//ỢU, CHỒNG NÓI NẾU KHÔNG CÓ CON GÁI THÌ CHẲNG NHỚ TÔI HỌ GÌ, BA THÁNG SAU ANH TA ĐỎ MẮT KHI THẤY TÔI TRÊN BÌA TẠP CHÍ
Khương Ngạn say rồi.
Nhân lúc anh ta còn mơ màng, tôi bỗng hỏi:
“Nếu có kiếp sau, anh còn cưới em không?”
Anh ta dựa người vào ghế ăn, cà vạt bị kéo lệch sang một bên, ly rượu vang lắc lư trong tay.
“Anh sẽ không kết hôn.”
Tôi khẽ cười.
“Vậy anh định cưới ai?”
“Không cưới ai hết.”
Anh ta ngáp một cái.
“Sống một mình.”
“Tại sao?”
“Vì một mình anh vẫn sống rất ổn. Biết đặt đồ ăn, biết dùng máy giặt.”
Tôi nhìn anh ta.
“Vậy anh có thể đón Tiểu Niệm tan học không?”
Khương Ngạn khựng lại hai giây.
Sau đó nói ra câu nói mà đến tận bây giờ tôi vẫn không thể quên được.
“Điều duy nhất khiến anh còn lưu luyến ở em là em đã sinh cho anh một cô con gái.”
“Tiểu Niệm là sợi dây cuối cùng nối giữa hai chúng ta.”
“Nếu không có con bé, anh thậm chí còn chẳng nhớ em mang họ gì.”
Ánh đèn vàng trong phòng khách vẫn dịu dàng như cũ.
Tiếng tủ lạnh chạy đều đều vang lên trong không gian yên tĩnh.
Đĩa xoài tôi vừa gọt trên bàn trà đã chuyển màu sẫm vì để quá lâu.
Tôi ngồi đó.
Lặng lẽ nhìn đĩa xoài hồi lâu.
Rồi đứng dậy.
Bưng nó vào bếp.
Đổ toàn bộ vào thùng rác.
Sáng hôm sau.
Khương Ngạn bước ra khỏi phòng ngủ, một tay day nhẹ thái dương.
“Tối qua anh có nói gì linh tinh không?”
Tôi đang ngồi tết tóc cho Tiểu Niệm.
“Không có.”
“Vậy thì tốt.”
Anh ta bật cười khẽ, cầm chìa khóa xe rồi đi làm.
Cánh cửa vừa đóng lại.
Dây buộc tóc trong tay tôi cũng đứt phựt.
Tôi cúi đầu nhìn.
Là vì buộc quá chặt.
Từ sau đêm hôm đó, tôi không nhắc lại bất cứ điều gì với anh ta nữa.
Vẫn nấu ăn như trước.
Vẫn đưa đón Tiểu Niệm như trước.
Vẫn nhắc anh ta uống ít rượu lại như trước.
Chỉ là có vài thứ đã âm thầm thay đổi.
Trước đây, mỗi lần anh ta tăng ca đến mười một giờ đêm, tôi đều nhắn tin hỏi có về ăn cơm hay không.
Bây giờ thì không.
Trước đây, thấy anh ta ném tất lung tung dưới gầm sofa, tôi sẽ cằn nhằn vài câu.
Bây giờ nhìn thấy, tôi chỉ tiện tay bỏ vào máy giặt.
Khương Ngạn dường như nhận ra điều gì đó.
Mà cũng giống như chẳng nhận ra gì cả.
Một đêm nọ.
Gần mười hai giờ.
Anh ta mở cửa bước vào nhà.
Đèn phòng khách vẫn còn sáng.
Tiểu Niệm đã ngủ từ lâu.
Tôi ngồi trước bàn ăn, chăm chú nhìn màn hình laptop.
“Sao còn chưa ngủ?”
“Đang làm bản thiết kế.”
“Thiết kế gì thế?”
“Một người bạn giới thiệu cho em dự án nhỏ, nhờ em lên phương án bố trí không gian.”
Khương Ngạn chỉ khẽ “ừ” một tiếng.
Sau đó đi tắm.
Lúc từ phòng tắm bước ra, anh ta đi ngang qua bàn ăn.
Ánh mắt vô tình lướt qua màn hình máy tính.
Đúng lúc thông báo chuyển khoản hiện lên.
2.300 tệ.
Bước chân anh ta chợt dừng lại.
“Em thật sự nhận việc ngoài à?”
“Ừm.”
“Hai nghìn ba trăm tệ, làm mất bao lâu?”
“Ba ngày.”
Anh ta vừa lau tóc vừa nói:
“Có cần thiết phải vậy không?”
“Nhà mình đâu thiếu chút tiền đó của em.”
Tôi vẫn nhìn màn hình.
Không ngẩng đầu.
“Lâu rồi không làm nghề, em sợ tay nghề mai một.”
Khương Ngạn không nói thêm gì nữa.
Quay người rời đi.
Sang tuần thứ hai.
Tôi nhận thêm một đơn mới.
5.000 tệ.
Đến tuần thứ ba.
Một khách hàng kinh doanh khách sạn boutique tìm đến.
Họ muốn tôi phụ trách toàn bộ phần thiết kế nội thất mềm.
Báo giá 12.000 tệ.
Từ đó trở đi, sau khi đưa Tiểu Niệm đến trường mỗi sáng, tôi không về nhà nữa.
Tôi mang theo laptop.
Đến quán cà phê quen thuộc.
Bắt đầu từng chút một nhặt lại sự nghiệp đã bị mình bỏ quên suốt những năm qua.
Tôi ngồi ở quán cà phê từ sáng đến tối.
Khương Ngạn hoàn toàn không hay biết.
Trong suy nghĩ của anh ta, tôi vẫn là người phụ nữ quanh quẩn ở nhà, xem phim, đợi đồ ăn giao tới rồi đợi chồng tan làm trở về.
Một tháng sau.
Tôi đổi sang một chiếc laptop đồ họa mới.
Khương Ngạn vô tình nhìn thấy.
“Mua lúc nào vậy?”
“Tuần trước.”
“Bao nhiêu tiền?”
“Hơn 9.000 tệ.”
Anh ta khẽ nhíu mày.
“Em lấy đâu ra nhiều tiền thế?”
“Tự kiếm.”
Khương Ngạn không hỏi thêm.
Nhưng vẻ mặt ấy nói cho tôi biết anh ta chẳng hề tin.
Hoặc có lẽ, trong mắt anh ta, chuyện đó vốn không đáng để tin.
Bước sang tháng thứ hai, tôi đăng ký một khóa học nâng cao về thiết kế không gian kiến trúc.
Lớp học diễn ra vào cuối tuần.
Bảy giờ rưỡi sáng tôi ra khỏi nhà.
Bảy giờ tối mới quay về.
Tiểu Niệm được giao lại cho Khương Ngạn chăm sóc.
Ngày thứ Bảy đầu tiên, anh ta gọi cho tôi bốn cuộc liên tiếp.
“Tiểu Niệm đòi ăn cá hồi.”
“Tiểu Niệm không chịu ngủ trưa.”
“Tiểu Niệm làm đổ sữa rồi, khăn lau ở đâu?”
“Bao giờ em mới về?”
Đến thứ Bảy tuần thứ hai.
Anh ta chỉ gọi đúng một cuộc.
“Mấy giờ em về?”
“Tầm bảy giờ.”
“Ừ.”
Nói xong liền cúp máy.
Cuối tuần thứ ba.
Khương Ngạn không gọi nữa.
Khi tôi mở cửa bước vào nhà, Tiểu Niệm đang ôm máy tính bảng xem hoạt hình.
Khương Ngạn dựa lưng trên sofa lướt điện thoại.
Trên bàn là ba hộp đồ ăn giao tận nơi.
Anh ta ngẩng đầu nhìn tôi.
“Dạo này cuối tuần nào em cũng đi hết à?”
“Đi học.”
“Học gì?”
“Thiết kế không gian.”
Khương Ngạn đặt điện thoại xuống.
“Ngày trước đại học em học ngành này rồi còn gì? Giờ lại bỏ tiền học lại?”
Tôi thay dép rồi đi vào nhà.
“Những gì học hồi đó chỉ là nền tảng.”
“Bây giờ phần mềm và công cụ trong nghề đã thay đổi mấy thế hệ rồi.”
Anh ta im lặng.
Mấy giây sau mới nói:
“Anh thấy chẳng cần thiết.”
Tôi ngồi xuống cạnh Tiểu Niệm, lau sạch vệt kem dính trên tay con bé.
“Nhưng em thấy cần.”
Khương Ngạn nhìn tôi rất lâu.
Tôi không quay đầu lại.
Tháng thứ ba.
Giảng viên chính của khóa học là Lâm Chính Tắc.
Một bậc tiền bối có tiếng trong giới thiết kế.